ỦY BAN
NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SỞ LĐTB&XH - SỞ GD&ĐT
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 9 năm 2018
TRÍCH MỘT SỐ NỘI DUNG “LUẬT
TRẺ EM NĂM 2016”
VỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM.
Chương I:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Trẻ em
Trẻ em là
người dưới 16 tuổi.
Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong
Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Bảo vệ trẻ em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm
trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi
xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
2. Phát triển toàn diện của trẻ
em là sự phát triển đồng thời cả về thể
chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và mối quan hệ xã hội của trẻ em.
3. Chăm sóc thay thế là việc tổ chức, gia đình, cá nhân nhận trẻ em về
chăm sóc, nuôi dưỡng khi trẻ em không còn cha mẹ; trẻ em không được hoặc không thể
sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột
vũ trang nhằm bảo đảm sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em.
4. Người chăm sóc trẻ em là người đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc trẻ em, bao gồm
người giám hộ của trẻ em; người nhận chăm sóc thay thế hoặc người được giao
trách nhiệm cùng với cha, mẹ của trẻ em cấp dưỡng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em.
5. Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm
lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại
tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.
6. Bạo lực trẻ em là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại
thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác
gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em.
7. Bóc lột trẻ em là hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định của
pháp luật về lao động; trình diễn hoặc sản xuất sản phẩm khiêu dâm; tổ chức, hỗ
trợ hoạt động du lịch nhằm mục đích xâm hại tình dục trẻ em; cho, nhận hoặc
cung cấp trẻ em để hoạt động mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ em để trục
lợi.
8. Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc,
lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm
hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích
mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.
9. Bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em là hành vi của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em không
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc
chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.
10. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
là trẻ em không đủ điều kiện thực hiện được
quyền sống, quyền được bảo vệ, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền học tập,
cần có sự hỗ trợ, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội để được
an toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng...
Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm
1.
Tước đoạt quyền sống của trẻ em.
2.
Bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
3.
Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em.
4.
Tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn.
5.
Sử dụng, rủ rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc trẻ em thực
hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác.
6. Cản trở trẻ em thực hiện quyền và bổn phận của mình.
7. Không cung cấp hoặc che giấu, ngăn cản việc cung cấp
thông tin về trẻ em bị xâm hại hoặc trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bị bạo
lực cho gia đình, cơ sở giáo dục, cơ quan, cá nhân có thẩm
quyền.
8.
Kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì đặc điểm cá nhân, hoàn cảnh gia đình,
giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo của trẻ em.
9.
Bán cho trẻ em hoặc cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện,
chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em.
10.
Cung cấp dịch vụ Internet
và các dịch vụ khác; sản xuất, sao chép,
lưu hành, vận hành, phát tán, sở hữu, vận chuyển, tàng trữ, kinh doanh xuất bản
phẩm, đồ chơi, trò chơi và những sản phẩm khác phục vụ đối tượng trẻ em nhưng
có nội dung ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em.
11.
Công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà
không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người
giám hộ của trẻ em.
12.
Lợi dụng việc nhận chăm sóc thay thế trẻ em để xâm hại trẻ em; lợi dụng chế độ,
chính sách của Nhà nước và sự hỗ trợ, giúp đỡ của tổ chức, cá nhân dành cho trẻ em để
trục lợi.
13.
Đặt cơ sở dịch vụ, cơ sở sản xuất, kho chứa hàng hóa gây ô nhiễm môi trường,
độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy, nổ gần cơ sở cung cấp dịch vụ bảo
vệ trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em
hoặc đặt cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa,
điểm vui chơi, giải trí của trẻ em gần cơ sở dịch vụ, cơ sở sản xuất, kho chứa
hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy,
nổ.
14.
Lấn chiếm, sử dụng cơ sở hạ tầng dành cho việc học tập, vui chơi, giải trí và
hoạt động dịch vụ bảo vệ trẻ em sai mục đích hoặc trái quy định của pháp luật.
15.
Từ chối, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời việc hỗ
trợ, can thiệp, điều trị trẻ em có nguy cơ hoặc đang trong tình trạng nguy
hiểm, bị tổn hại thân thể, danh dự, nhân phẩm.
Chương VI, Mục 2.
TRÁCH NHIỆM CỦA GIA ĐÌNH, CÁ
NHÂN VÀ CƠ SỞ GIÁO DỤC
Điều 96. Bảo đảm cho trẻ em được sống với cha, mẹ
1. Cha, mẹ, người
chăm sóc trẻ em, các thành viên trong gia đình bảo đảm điều kiện để trẻ em được
sống với cha, mẹ.
2. Cha, mẹ, người
chăm sóc trẻ em và các thành viên trong gia đình phải chấp hành quy định của
pháp luật và quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về việc hạn chế
quyền của cha, mẹ; tách trẻ em khỏi cha, mẹ để bảo đảm an toàn và vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Điều 97. Khai sinh cho
trẻ em
Cha, mẹ, người
chăm sóc trẻ em có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn theo quy định
của pháp luật.
Điều 98. Chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em
1. Cha, mẹ, người
chăm sóc trẻ em và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm trong việc chăm
sóc, nuôi dưỡng, quản lý, giáo dục trẻ em; dành điều kiện tốt nhất theo khả
năng cho sự phát triển liên tục, toàn diện của trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 36 tháng tuổi; thường xuyên liên hệ với cơ quan, tổ chức,
cá nhân có trách nhiệm để được hướng dẫn, trợ giúp trong quá trình thực hiện
trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em.
2. Cha, mẹ, người
chăm sóc trẻ em có trách nhiệm bảo đảm chế độ dinh dưỡng phù hợp với sự phát
triển về thể chất, tinh thần của trẻ em theo từng độ tuổi.
3. Cha, mẹ, người
chăm sóc trẻ em có trách nhiệm thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng bệnh
cho trẻ em.
4. Phụ nữ
mang thai có trách nhiệm tiếp cận dịch vụ y tế để được tư vấn sàng lọc, phòng ngừa các bệnh tật bẩm sinh cho trẻ em.
5. Cha, mẹ,
người giám hộ, người chăm sóc trẻ em, các thành viên trong gia đình có trách
nhiệm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; trau dồi kiến
thức, kỹ năng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em, tạo môi trường lành mạnh
cho sự phát triển toàn diện của trẻ em.
Điều 99. Bảo đảm quyền học tập, phát triển năng khiếu, vui chơi, giải
trí, hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch của trẻ em
1. Cha, mẹ, giáo
viên, người chăm sóc trẻ em và các
thành viên trong gia đình có trách nhiệm gương mẫu về mọi mặt cho trẻ em noi
theo; tự học để có kiến thức, kỹ năng giáo dục trẻ em về đạo đức, nhân cách,
quyền và bổn phận của trẻ em; tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển toàn
diện của trẻ em.
2. Cha, mẹ, giáo
viên, người chăm sóc trẻ em có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền
học tập, hoàn thành chương trình giáo dục phổ cập theo quy định của pháp luật,
tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn.
3. Cha, mẹ, giáo
viên, người chăm sóc trẻ em phát hiện, khuyến khích, bồi dưỡng, phát triển tài
năng, năng khiếu của trẻ em.
4. Cha, mẹ, giáo
viên, người chăm sóc trẻ em tạo điều kiện để trẻ em được vui chơi, giải trí,
hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi.
Điều 100. Bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự, bí mật đời sống
riêng tư của trẻ em
1. Cha, mẹ, giáo
viên, người chăm sóc trẻ em và các
thành viên trong gia đình có trách nhiệm sau đây:
a) Trau
dồi kiến thức, kỹ năng giáo dục trẻ em về đạo đức, nhân cách, quyền và bổn phận
của trẻ em; tạo môi trường an toàn, phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em;
phòng ngừa trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, có nguy cơ bị xâm hại hoặc bị xâm
hại;
b) Chấp
hành các quyết định, biện pháp, quy định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền để
bảo đảm sự an toàn, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự và bí mật
đời sống riêng tư của trẻ em;
c) Bảo
đảm để trẻ em thực hiện được quyền bí mật đời sống riêng tư của mình, trừ
trường hợp cần thiết để bảo vệ trẻ em và vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
2. Cha, mẹ, giáo
viên, người chăm sóc trẻ em, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có trách
nhiệm trong việc phát hiện, tố giác, thông báo cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về hành
vi xâm hại trẻ em, trường hợp trẻ em có nguy cơ bị xâm hại hoặc đang bị xâm hại
trong và ngoài gia đình.
3. Cha, mẹ, người
giám hộ của trẻ em có trách nhiệm
lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho trẻ em trong quá trình tố
tụng theo quy định của pháp luật.
Điều 101. Bảo đảm quyền dân sự của trẻ em
1. Cha, mẹ, người
giám hộ của trẻ em và các thành viên trong
gia đình có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em; đại diện cho
trẻ em trong các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm
trong trường hợp để trẻ em thực hiện giao dịch dân sự trái pháp luật.
2. Cha, mẹ, người
giám hộ của trẻ em phải giữ gìn, quản lý
tài sản của trẻ em và giao lại cho trẻ em theo quy định của pháp luật.
3. Trường
hợp trẻ em gây thiệt hại cho người khác thì cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em phải bồi thường thiệt hại do hành vi của trẻ em đó gây
ra theo quy định của pháp luật.
Điều 102. Quản lý trẻ
em và giáo dục để trẻ em thực hiện được quyền và bổn phận của trẻ em
1. Cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ
em và các thành viên trong gia đình có
trách nhiệm trong việc quản lý, giáo dục và giúp đỡ để trẻ em hiểu và thực hiện được quyền và bổn phận của trẻ
em theo
quy định tại Chương II của Luật này.
2. Cha, mẹ, giáo
viên, người chăm sóc trẻ em và các
thành viên trong gia đình phối hợp chặt chẽ trong việc quản lý, giáo dục và giúp đỡ để trẻ em hiểu,
nhận thức đầy đủ và thực hiện được quyền và bổn phận của trẻ em theo quy định tại Chương II của Luật này.